Sao nở hại chim

0

sao-no-hai-chim

Như có hẹn với cây cỏ mùa xuân trong vườn nhà tôi, một loài chim quen thuộc hàng năm lại trở về bụi tre sau vườn, cất lên tiếng hót rõ ràng, từng hồi, trong buổi sáng tinh sương. Tôi không biết rõ loài chim này, chỉ thấy nó khá to, đuôi dài, màu đất, rất nhát với người, núp rất kỹ. Thế rồi xuân qua, nó đã thiên di tận nơi đâu. Đến mùa xuân sau, vẫn trở lại tiếng hót như thế. Mỗi năm tôi đón xuân, không quên chờ đợi tiếng hót đó, và tự hỏi: Hiện tượng này có còn được tiếp nối từ thế hệ chim này đến thế hệ chim tiếp theo?

Tiếc thay, tiếng chim đó thật là lẻ loi, không thể gây hiệu ứng cho những loài chim khác. Trước đây mấy chục năm, khu vườn là nơi vui vầy của một số loài chim, và tôi xem đó là hiện tượng tự nhiên, không có gì phải quan tâm. Chim sẻ luôn luôn là loại dễ thấy nhất, lanh chanh, rộn rã, đến mùa làm tổ thì ngự trị trên những cây cau, nhìn chúng tha rác làm tổ thấy vui mắt; tiếp đến là chim chào mào cũng không hiếm, rất oai với mào đỏ và rất to miệng, kẻ cả, tranh nhau những hạt mai; bên cạnh hai loài chim này, thỉnh thoảng lại xuất hiện chim sáo, tung tăng trong vườn, và cũng rất bất chợt trong mùa xuân, chim én kéo đến không lâu rồi bay đi. Nhưng rồi năm tháng qua, vườn nhà tôi càng vắng bóng chim, chỉ trừ se sẻ, nhưng không nhiều.

Từ vườn nhà, nhìn ra thành phố, thấy lần hồi tiếng chim thưa thớt và nhịp sống thành phố khiến người dân quên hẳn có chim sống cùng với mình, tự do, đùa vui trong thiên nhiên. Có chăng là còn chim sẻ, chim sâu. Ra khỏi thành phố, về nông thôn, vẫn còn chút điểm sáng của những cánh cò chập chờn trên sông nước, tha thẩn kiếm ăn trên cánh đồng; còn những sơn ca, chào mào, họa mi… thì sau này muốn biết, e phải tìm đến những người chơi chim, hoặc… vào Google! Rất dễ thấy, chim là nạn nhân của những tay súng bắn chim hoặc những tay bẫy chim, những người này lùng sục chim khắp nơi, từ đồng ruộng đến miền núi, kể cả chim sẻ trên các cây xanh thành phố.

Trong tất cả loài chim, chim én là bi đát nhất. Mùa xuân từng đàn én chập chờn trên không trung, trên cánh đồng, rất dễ vướng bẫy và lưới của con người. Én bị vặt lông, xâu thành từng chục, hoặc cho vào lồng, do mấy chị vùng quê đem lên thành phố bán, kiếm chút ít tiền sinh sống. Chao ôi, cái món rô-ti chỉ một dúm thịt, xương, đầu, cánh chẳng là bao, mà con người nhai rùm rụm để tìm khoái khẩu trong hơi men. Tốt số hơn một chút, những giỏ chim được đưa đến các chùa, các lễ hội tâm linh, và may mắn những con chim én được người mua phóng sinh, nhưng én phần nhiều bị bỏ đói, kiệt sức, bay xa không được, lại bị bắt lần nữa. Vô tình mà chuyện phóng sinh lại làm hại cho chim, từ thế hệ này đến thế hệ khác: Có người phóng sinh là có nhu cầu về chim, nhu cầu đó lại càng khuyến khích người đi bẫy chim, giăng lưới bắt chim. Loài chim én báo hiệu mùa xuân dễ thương như thế, với đôi cánh nhỏ chao lượn trên bầu trời đẹp như thế, với năng lực bắt côn trùng, sâu bọ giúp ích con người như thế mà bị con người đối xử hung bạo, thật là tội ác đối với thiên nhiên và loài chim.

Không chỉ loài én và chim sẻ bị bẫy, bị mắc lưới, mà những loài chim, cò, vạc cũng bị săn bắt, thỏa nhu cầu tham ăn, tham của lạ của con người. Thôn quê đẹp biết bao với những cò, vạc, diệc… kiếm ăn trên cánh đồng, bên bờ ao, dáng hiền lành, nhẫn nại, làm bạn với nhà nông, thỉnh thoảng bay dập dờn trên sông, trên đồng, như nét chấm phá của cảnh thanh bình, thế mà cũng bị hóa kiếp trên bếp lò. “Cứ mỗi mùa mưa về, hai bên quốc lộ Một đoạn đi qua xã Lộc Thủy (huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế) lại xuất hiện các điểm bán chim trời. Những con chim được bẫy từ đồng ruộng, có con nặng đến cả ký như cò, vạc, triết, ngàn… Phần lớn chúng còn sống nhưng đã bị người bẫy chim cắt đi lông cánh hoặc khâu mắt để không thể bay được…”. Báo Tuổi Trẻ (1) đã đăng như thế, kèm theo hình ảnh rất thương tâm: Bên vệ đường, người bán bày ra ba con loại cò, vạc to, chân cao, mỏ dài, rụt cổ, vô cùng tang thương, bị cột chân vào ghế.

Không nhiều và không kết đàn như sẻ, én và các loài cò, vạc… dễ bị bắt, phục vụ cho miếng ăn hoặc phóng sinh của con người, một số loài chim được ban cho tiếng hót hay, thế là bị con người kiếm cách sở hữu, chiếm đoạt của thiên nhiên. Ngày xưa, chim thênh thang giữa trời đất, sông nước, vui vầy với hoa cỏ, “Mọc giữa dòng sông xanh / Một bông hoa tím biếc / Ơi con chim chiền chiện / Hót cho mà vang trời…”(2). Thế mà nay, chiền chiện hay sơn ca, đã không hót vang trời giữa thiên nhiên mà hót nghẹn ngào trong lồng. Các loài chim quý sống giữa thiên nhiên là đối tượng săn bắt của những người bẫy chim chuyên nghiệp, đi lùng sục cùng khắp, nào sơn ca, họa mi, khướu, chào mào, chích chòe, cu gáy,… Trong khi chim vắng bóng trong công viên, khu vườn, rừng núi, đồng ruộng,… thì chim bị nhốt trong lồng, đưa về thành phố, và ngày càng thấy nhiều người vội vã trên đường, lái xe gắn máy, một tay cầm lồng chim. Thỉnh thoảng các người chơi chim tụ hội trao đổi, khoe nhau tiếng hót tuyệt vời, độc đáo của chim “ruột” nhà mình, vui cho người thì đúng là vui, chim hót quả là hay, nhưng sao thấy chim tội nghiệp quá, mà lẽ ra tiếng hót của nó là trong tự do thênh thang.

Nhưng rất may, quanh ta, có những người từ bi với chim. Một bạn đồng nghiệp của tôi về hưu, sống thanh thản, thích đọc sách, yêu cây cỏ, đặc biệt là phong lan, và thêm một thú vui nữa   là thích chơi chim, cũng sắm lồng đẹp, rước chim về, lo lắng miếng ăn giấc ngủ của chim, buồn vời vợi khi chim ủ rũ, còn khi vui hứng chí thì huýt gió theo chim hoặc lim dim mơ màng khi nghe chim hót. Thế mà… Một lần tôi đến nhà bạn, các giò lan vẫn khoe hương sắc, mà chim không thấy. Thì ra bạn tôi đã thả chim bay đi. Bạn tôi đã theo hạnh từ bi của con nhà Phật.

Người thứ hai mà tôi muốn đề cập là bác H., phục vụ tại Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán Huế. Bác H. không say mê tiếng hót của chim, nhưng sống gần với chim thật tự nhiên, từ chốn quê nhà vốn quen thuộc với những chim chóc, cò vạc trên bụi tre, trên cánh đồng, ao hồ… cho đến nơi bác làm Phật sự. Trong không gian yên lặng của bình minh và chiều tà, tiếng kêu lích chích gọi đàn của chim sẻ làm nguồn vui cho bác, và bác rải gạo cho chúng xuống chơi. Từ đó, ngày hai lần, sáng và chiều, bác đều rải gạo như thế, chim ríu rít tranh nhau mổ gạo, và khi hết đồ ăn thì chúng tản ra trên những tàng cây gần đó. Người cho và chim nhận cứ vô tư với thói quen đó. “Có buổi sáng, tui chưa kịp rải gạo, thì tụi hắn ồn ào, bay vào trong như hối thúc tui”. Những buổi sớm, đi bộ thể dục đến Trung tâm, chúng tôi cùng vui lây với bầy sẻ – có khi đông đến hai, ba trăm con – và tránh xa một chút để không phá rầy chim tụ tập. Mấy năm nay, các thế hệ chim nối tiếp đến với bác, bác cho biết: “Vui quá khi thấy chim mẹ đút mồi cho con, còn đàn con thì kêu inh ỏi, hả mỏ chờ mẹ”.

May mắn, không gian của Trung tâm Liễu Quán là nơi yên bình cho chim, chứ bên ngoài một chút thì không được thế, vì thỉnh thoảng những hôm đẹp trời, trên đường đi bộ phía sau Trung tâm, mấy tay thiện xạ dùng ống thổi, thổi đạn (đất sét vo tròn, phơi khô?) nhắm vào chim đậu trên tàng cây. Chim trúng đạn, lảo đảo, rớt xuống. Cho hay, trong cảnh súng đạn, người và chim đều tỵ nạn trong chùa và cơ sở Phật giáo!

Chiến tranh đi qua, chim đã chia sẻ thiệt hại về sinh mạng và môi trường sống với con người. Lẽ ra trong hòa bình, chim được tung cánh trong bầu trời tự do cùng với con người được yên ổn làm ăn, thì ngược lại, con người đối xử tàn bạo với chim và các sinh vật khác, lại còn phá rừng, hủy diệt môi trường sống của các loài cầm thú, săn bắt bừa bãi đến hủy diệt. Không lẽ trong tiến trình đô thị hóa, nhất thiết số phận con vật phải chịu hy sinh?

Điều này không hẳn như thế tại các nước phát triển, mà có khi ngược lại, nhất là đối với loài chim. Ngày nay, cây xanh thành phố ngày càng nhiều, công viên càng rộng rãi, có hồ nước trong xanh, nên chim tụ hội về thành phố, trong khi nông thôn vì canh tác lớn và sử dụng thuốc trừ sâu và phân hóa học, chim lại càng bỏ nông thôn ra thành thị; hơn nữa con người không tàn sát chim mà ngược lại thân thiện với chim.

Cách cư xử của con người với thiên nhiên, đặc biệt là với loài chim, nói lên tầm văn minh của con người và xã hội. Thiên nhiên quảng đại như ngôi nhà chung, chim chóc vốn quá hiền lành, dễ thương, chỉ có con người phạm tội, cho nên con người phải dạy con người, từ thế hệ này qua thế hệ khác, để tình cảm yêu quý thiên nhiên và chim chóc đi vào tàng thức từ khi sinh ra. Trước đây, ta cũng đã làm rồi, cụ thể là trong giáo dục trẻ nhỏ, với những bài rất hay về tình cảm yêu quý đó, rất thuyết phục. Xin trở về một bài trong số đó, trong Quốc văn giáo khoa thư, bàiKhông nên phá tổ chim:

Thằng Sửu thấy ở trên cành cây có một tổ chim chích chòe, ba con chim mới nở, thì lấy làm mừng lắm. Nó trèo lên, bắt xuống, để chơi. Chị nó trông thấy, ngăn lại mà bảo nó rằng: ‘Em ơi! Chớ nên bắt! Chim nó đang sung sướng thế mà em bắt nó, thì nó cực khổ biết là dường nào! Em thử nghĩ chốc nữa, mẹ nó tha mồi về, mà không thấy con, thì đau đớn thế nào. Vả những con chim con ấy mà em bắt về, thì dẫu em chăm chút nó thế nào, nếu nó không chết, thì cũng chẳng sao bằng mẹ nó săn sóc, nuôi nấng nó được. Thôi em ơi! Em đừng làm khổ nó vô ích, đem về trả mẹ nó. Sau nó lớn lên, nó bay, nó lượn, đẹp mắt em, nó kêu, nó hót, vui tai em, nó ăn sâu, ăn bọ thì hoa quả thóc lúa của nhà ta và của thiên hạ được đỡ hại’. Sửu nghe chị nói, lại đem cái tổ chim lên để vào chỗ cũ.

Ngày nay, trong thời đại thừa văn minh vật chất nhưng thiếu tình yêu thiên nhiên, đến nỗi những kẻ phá rừng, giết thú, hại chim… lộng hành, tôi nghe mơ hồ từ xa thẳm vọng lại, tiếng chị em thằng Sửu như huyền thoại một thờiQuốc văn giáo khoa thư đầy tình thương!

Thương mình thì phải biết thương chúng sinh, Phật tử chúng ta thường ghi lòng tạc dạ như thế. Bác H. của Trung tâm Văn hóa Phật giáo Liễu Quán và bạn tôi, người thả chim nói trên, chỉ làm công việc bình thường, vì lòng từ bi đối với muôn loài. Bình thường, nhưng giá như ai ai cũng làm như thế! „Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 176

Share.

Leave A Reply